Chọn giấy in tờ gấp không chỉ dựa vào cảm giác dày hay mỏng khi cầm trên tay. Vì tờ gấp có các đường cấn và nếp gấp, loại giấy cần phù hợp để hạn chế tình trạng nứt lớp mực hoặc lớp phủ bề mặt sau khi gia công. Số đường gấp, định lượng giấy và cách xử lý sau in là những yếu tố cần cân nhắc khi chọn giấy. Với tờ gấp, không phải mức định lượng nào trong dải C100 đến C300 cũng phù hợp cho mọi kiểu gấp.
Bài viết sẽ phân tích các nhóm giấy thường dùng cho tờ gấp, mối liên hệ giữa định lượng và kiểu gấp, nguyên nhân gây nứt trắng tại nếp gấp, cùng vai trò của cấn và cán màng trong quá trình hoàn thiện. Qua đó, bạn có thể xác định loại giấy phù hợp với cấu hình tờ gấp và chuẩn bị thông tin cần thiết khi gửi xưởng báo giá.

Giấy in tờ gấp khác giấy in tờ rơi ở chỗ nào?
Giấy in tờ gấp có yêu cầu cao hơn tờ rơi vì phải chịu được nếp gấp mà không bị nứt. Tờ rơi là một tờ phẳng nên giấy chủ yếu cần bám mực tốt và đủ cứng để cầm chắc tay. Với tờ gấp, giấy được gấp tại một hoặc nhiều vị trí cố định nên cần đáp ứng thêm ba yêu cầu. Nếp gấp không bị nứt, tờ gấp đủ cứng để đứng trên quầy hoặc nằm trong kẹp hồ sơ, đồng thời độ dày phù hợp với số lớp giấy sau khi gấp.
| Tiêu chí | Tờ rơi phẳng | Tờ gấp |
|---|---|---|
| Hành vi ở nếp gấp | Không có nếp gấp | Lớp phủ và lớp mực bị bẻ, có thể nứt thành vệt trắng |
| Độ cứng cần thiết | Đủ để cầm không oặt | Đủ để thành phẩm gấp lại tự đứng được |
| Số lớp giấy khi gấp lại | 1 lớp | 2 lớp với gấp đôi, 3 lớp trở lên với gấp ba |
| Dòng gia công phát sinh | Cắt xén | Cắt xén, cấn đường gấp, gấp thành phẩm |
Bài này chỉ tập trung vào tờ gấp dạng tờ rời, không bao gồm các ấn phẩm đóng cuốn. Tờ gấp không có bìa, ruột hay gáy nên yêu cầu về giấy chủ yếu nằm ở đường gấp. Một khái niệm quan trọng là định lượng, ký hiệu gsm, cho biết số gram giấy trên mỗi mét vuông. Định lượng càng cao thì giấy càng dày và cứng.

4 nhóm giấy in tờ gấp và đặc tính khi cấn gấp
Bốn nhóm giấy dưới đây được chia dựa trên hai yếu tố chính là bề mặt có phủ hay không và độ cứng của giấy. Hai yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến độ bền và khả năng chịu nếp gấp của giấy, nên cần được xem xét trước khi chọn màu sắc hoặc giá thành.
Giấy couche
Giấy Couche thường được chọn cho tờ gấp vì có lớp phủ giúp màu in tươi và chữ rõ. Tuy nhiên, khi gấp, lớp phủ dễ bị nứt và tạo thành vệt trắng tại nếp gấp.
Nguyên nhân là lớp phủ cứng và giòn hơn phần giấy bên dưới. Khi gấp, thân giấy có thể giãn ra nhưng lớp phủ không co giãn theo nên bị gãy. Vết gãy này lộ rõ thành đường trắng dọc theo nếp.
In Siêu Tốc có các mức Couche C100, C150, C200, C250 và C300 trong bảng giá. Giấy Couche phù hợp với tờ gấp nhiều hình ảnh, giới thiệu sản phẩm và các ấn phẩm cần màu in rõ, sát với thiết kế.
Giấy ford
Giấy Ford không có lớp phủ nên ít bị nứt ở nếp gấp hơn Couche. Tuy nhiên, màu in thường trầm hơn và giấy mỏng có thể khiến tờ gấp khó tự đứng.
Mực in thấm vào thớ giấy thay vì nằm trên lớp phủ nên màu không tươi bằng Couche. Bù lại, bề mặt Ford dễ viết bằng bút bi và bút mực, phù hợp khi cần ghi thông tin.
Ford thích hợp với tờ gấp có ô điền, phiếu đăng ký hoặc hướng dẫn sử dụng kèm sản phẩm. Bảng giá có FO100, FO150 và FO180; trong đó FO100 khá mỏng, không phù hợp với tờ gấp cần đặt trên bàn.
Giấy bristol
Bristol là loại giấy dày và cứng nhất trong bốn nhóm giấy dùng cho tờ gấp. Khi cần tờ gấp đứng trên quầy, Bristol thường nên cấn trước khi gấp và có thể cán màng để tăng độ bền bề mặt.
Giấy càng dày thì thành phẩm càng cứng và chịu được nhiều lần cầm. Tuy nhiên, nếp gấp cũng chịu lực lớn hơn. Nếu gấp Bristol mà không cấn trước, giấy có thể bị gãy hoặc nứt sâu tại nếp, gây hư thành phẩm và khó khắc phục.
Bristol phù hợp với tờ gấp để bàn, bảng giá dùng lâu hoặc tờ gấp kèm thực đơn. Bảng phụ phí hiện có B300 và B350; các định lượng khác tùy thời điểm, nên xác nhận với xưởng trước khi chốt file.
Giấy mỹ thuật và giấy kraft
Giấy mỹ thuật và Kraft nâu thường được chọn nhờ màu nền, vân và bề mặt riêng. Với hai loại này, nên gấp thử một tờ trước khi in cả lô để kiểm tra màu và nếp gấp.
Giấy mỹ thuật có vân nên mực có thể không lên giống Couche, đặc biệt ở vùng màu đậm. Kraft có nền nâu tự nhiên và thân giấy dai, chịu gấp tốt nhưng nền nâu làm màu in bị ám. Vì vậy, Kraft thường hợp với thiết kế một hoặc hai màu hơn là phủ kín nền.
Hai loại giấy này thường không nằm trong nhóm giấy chuẩn của bảng giá in nhanh, nên giá và thời gian cần được xác nhận riêng. Ngoài ra, Duplex và Crystal là giấy phủ một mặt, thường dùng cho hộp hoặc nhãn, không phù hợp với tờ gấp cần in hai mặt.

Định lượng giấy tờ gấp nên chọn bao nhiêu?
Càng nhiều đường gấp, giấy càng nên mỏng hơn. Một đường gấp có thể dùng giấy dày, hai đường gấp cần giảm định lượng. Từ ba đường gấp trở lên, nên chọn giấy mỏng để hạn chế nứt và khó gấp.
| Kiểu gấp | Số đường gấp | Nhóm giấy làm việc được | Điều kiện đi kèm |
|---|---|---|---|
| Gấp đôi | 1 | Tới nhóm dày, gồm cả C250, C300 và bristol | Cấn khi dùng giấy dày hoặc giấy đã cán màng |
| Gấp ba kiểu cuộn hoặc chữ Z | 2 | Nhóm giữa, quanh C150 đến C200 | Cấn hai đường, mặt gấp vào phải hẹp hơn |
| Từ ba đường gấp trở lên | 3 trở lên | Nhóm mỏng, quanh C80 đến C150 | Cấn bằng máy, nên in thử một tờ trước |
Bảng trên sử dụng dải định lượng theo cách xưởng ghi trong bảng giá, không phải một mức gsm cố định cho mọi trường hợp. Với từng file, In Siêu Tốc sẽ xem khổ trải và diện tích màu đậm để chọn định lượng phù hợp.
Lý do cần giới hạn định lượng là vì mỗi nếp gấp đều tạo lực lên giấy. Khi có nhiều nếp, khoảng giấy giữa các nếp ngắn hơn và phải chịu lực từ nhiều phía nên nguy cơ nứt tăng lên. Tờ càng có nhiều đường gấp thì rủi ro càng cao. Ngoài ra, tờ gấp ba khi xếp lại sẽ có nhiều lớp giấy chồng lên nhau. Nếu giấy quá dày, các mép dễ bị phồng, khiến tờ gấp khó nằm phẳng trong túi hoặc kẹp hồ sơ.

Tờ gấp đôi: một đường gấp
Gấp đôi là kiểu đơn giản và dễ xử lý nhất vì chỉ có một nếp gấp, hai phần giấy bằng nhau nên có thể dùng giấy dày.
Tờ gấp đôi có 4 mặt nội dung, với nếp gấp nằm giữa tờ. Hai phần bằng nhau giúp lực gấp phân bố đều, không cần thu hẹp một mặt như một số kiểu gấp khác.
Kiểu này phù hợp với bảng giá, thực đơn hai mặt hoặc tờ giới thiệu kèm hợp đồng. Với giấy dày như C300, tờ vẫn có thể gấp gọn và nằm phẳng khi đóng lại.
Tờ gấp ba: hai đường gấp
Gấp ba là kiểu phổ biến nhất nhưng có nhiều yêu cầu hơn gấp đôi. Tờ gấp có 2 đường gấp và 6 mặt nội dung, trong đó cách chia mặt phụ thuộc vào kiểu gấp.
Có hai kiểu gấp ba là gấp cuộn và gấp chữ Z. Gấp cuộn có một mặt gấp vào trong rồi được hai mặt còn lại bao lại, nên mặt này cần hẹp hơn một chút để tờ gấp đóng phẳng. Gấp chữ Z gấp so le, ba mặt bằng nhau và khi mở ra tạo thành một dải liên tục. Với gấp cuộn, giấy càng dày thì mặt gấp vào càng dễ bị đội lên, khiến tờ khó khép phẳng. Mức chênh cụ thể giữa các mặt sẽ do xưởng xác định theo khổ trải.
Ngoài ra, 2 đường gấp tương đương 2 lượt cấn trên mỗi tờ, nên chi phí cấn được tính riêng.

Tờ gấp bốn mặt trở lên và gấp cửa
Từ 3 đường gấp trở lên, nên chọn giấy mỏng hơn để tờ có thể gấp lại phẳng. Giấy quá dày dễ làm các mép bị phồng và khó khép kín.
Hai kiểu thường gặp là gấp so le liên tiếp và hai cánh gấp vào giữa. Cả hai đều có nhiều lớp giấy chồng lên nhau nên phần mép ngoài dễ bị đội lên. Do ít được sử dụng, tờ gấp nhiều mặt nên in thử một tờ trước khi chạy cả lô.
Các kiểu gấp này thường cần máy cấn và máy gấp để tạo nếp chính xác. Khả năng nhận đơn còn phụ thuộc vào thiết bị của từng xưởng, nên cần xác nhận trước khi chốt file.
Vì sao đường gấp bị nứt trắng hoặc bung nếp?
Nứt ở nếp gấp không hẳn do giấy kém chất lượng. Hiện tượng này thường đến từ ba yếu tố gồm lớp phủ, hướng thớ giấy và độ dày.
- Lớp phủ: Couche và Bristol có lớp phủ cứng hơn phần giấy bên dưới. Khi gấp, thân giấy có thể giãn nhưng lớp phủ khó co giãn nên bị nứt, làm lộ nền giấy trắng bên dưới. Vết nứt dễ thấy nhất khi nếp gấp đi qua vùng màu đậm.
- Hướng thớ giấy: Thớ giấy là hướng các sợi giấy hình thành trong quá trình sản xuất, tương tự như vân gỗ. Gấp dọc theo thớ thường cho nếp gọn và ít nứt hơn. Gấp ngang thớ khiến sợi giấy bị bẻ mạnh, nên nếp dễ gợn và nứt. Người đặt in khó xác định hướng thớ bằng mắt, vì vậy nên trao đổi với xưởng nếu đường gấp đi qua vùng màu đậm.
- Độ dày: Giấy càng dày thì phần ngoài của nếp gấp càng phải giãn nhiều khi bẻ. Nếu độ giãn vượt quá giới hạn của giấy, lớp ngoài có thể bị rách.
Ba yếu tố này cũng giải thích vì sao xưởng thường dùng cấn và cán màng để hạn chế nứt. Cấn tạo sẵn rãnh để giấy gấp đúng vị trí, còn cán màng giúp bảo vệ bề mặt in.

Khi nào bắt buộc phải cấn trước khi gấp?
Cấn là bước tạo sẵn một rãnh lõm trên đường gấp, giúp giấy gấp đúng vị trí và hạn chế nứt. Giấy càng dày hoặc có lớp phủ bề mặt thì càng nên cấn, thậm chí có trường hợp bắt buộc phải cấn.
Xưởng dùng dao cùn để ép tạo rãnh mà không cắt rời giấy. Cấn là công đoạn tạo rãnh trên giấy để định vị đường gấp, giúp thành phẩm gấp đúng vị trí và hạn chế nứt. Đường cấn có thể được tạo trực tiếp bằng máy cấn mà không cần khuôn, hoặc thực hiện bằng khuôn bế sử dụng dao cùn, còn gọi là dao cấn. Trong quá trình bế, dao sắc tạo đường cắt đứt giấy, còn dao cấn tạo đường rãnh nhưng không làm giấy bị cắt rời. Vì vậy, khuôn bế có thể đồng thời thực hiện cả đường cắt và đường cấn tùy theo loại dao được lắp trên khuôn.
| Trường hợp | Cấn hay không |
|---|---|
| Giấy mỏng, không có lớp phủ, gấp một đường | Có thể gấp thẳng, cấn giúp nếp thẳng và đều hơn |
| Giấy có lớp phủ, gấp một tới hai đường | Nên cấn, nhất là khi nếp chạy qua vùng màu đậm |
| Giấy đã cán màng | Bắt buộc cấn, không cấn thì lớp màng và lớp mực đứt thành vệt |
| Giấy dày nhóm bristol | Bắt buộc cấn, không cấn thì gãy sống giấy chứ không chỉ nứt lớp phủ |
Quy trình đúng là in → cán màng → cấn → gấp. Cấn sau khi cán giúp tạo rãnh xuyên qua lớp màng và giấy, nhờ đó tờ gấp dễ gấp đúng nếp. Nếu cấn trước rồi mới cán, lớp màng có thể phủ kín rãnh và làm giảm tác dụng của đường cấn.
Chi phí cấn được tính theo số lượt. Mỗi đường gấp trên một tờ tính là một lượt, nên cùng số lượng, tờ gấp ba có 2 lượt cấn sẽ tốn gấp đôi tờ gấp đôi có 1 lượt.
Cán màng làm thay đổi lựa chọn giấy thế nào?
Cán màng là bước phủ một lớp nhựa mỏng lên bề mặt giấy để bảo vệ phần in. Lớp màng giúp che bớt vệt trắng do nứt ở nếp gấp, nhưng cũng làm tờ giấy cứng hơn. Vì vậy, tờ gấp đã cán màng cần cấn trước khi gấp.
Lớp màng có độ dẻo cao hơn lớp phủ trên giấy. Khi gấp, lớp phủ có thể nứt nhưng màng vẫn giữ bề mặt liền, nên vết trắng khó nhìn thấy. Tuy nhiên, màng làm giấy cứng hơn và khó gấp bằng tay nếu không có đường cấn.
Có hai loại phổ biến là cán màng bóng và cán màng mờ. Màng bóng giúp màu sắc trông tươi hơn nhưng dễ lộ dấu vân tay. Màng mờ ít bám dấu tay và cho bề mặt dịu hơn, phù hợp với tờ gấp được cầm nhiều lần hoặc đặt lâu trên quầy.
Giấy quá mỏng có thể bị cong hoặc nổi bọt khi cán màng. Vì vậy, nên xác nhận với xưởng trước khi chọn cấu hình này. Nếu nếp gấp đi qua vùng màu đậm, nên tính phương án cán màng ngay từ đầu.
Chọn giấy theo nội dung và cách sử dụng tờ gấp
Sau kiểu gấp, bạn cần xét vị trí sử dụng, vì nơi đặt tờ gấp sẽ quyết định mức độ cứng phù hợp.
| Tình huống sử dụng | Nhóm giấy phù hợp | Lý do vật lý |
|---|---|---|
| Phát tay ngoài đường | Nhóm mỏng | Tờ gấp bị gập lại nhét vào túi quần túi xách, giấy mỏng chịu gập tốt hơn giấy cứng |
| Đặt kệ tại quầy | Nhóm dày, bristol hoặc C250 trở lên | Thành phẩm phải tự dựng đứng, độ cứng thân giấy là thứ giữ dáng |
| Kẹp vào hồ sơ hoặc catalogue | Nhóm giữa | Độ dày cộng dồn theo số lớp gấp, giấy dày làm cả tập hồ sơ phồng và khó kẹp |
| Gửi qua bưu điện | Nhóm mỏng tới giữa | Trọng lượng ảnh hưởng trực tiếp tới cước gửi, chênh lệch nhân theo số lượng |
Bốn trường hợp trên giúp bạn loại bớt lựa chọn ngay từ đầu. Nếu tờ gấp vừa đặt trên quầy vừa kẹp trong hồ sơ, hãy ưu tiên độ cứng để dựng đứng, vì đây là yêu cầu cao hơn.
Tăng một bậc định lượng thì đội thêm bao nhiêu tiền?
Định lượng giấy cao hơn sẽ làm chi phí tăng ở 3 phần. Mức tăng đáng kể nhất xảy ra khi giấy vượt giới hạn của in ghép bài, thay vì chỉ tăng thêm một bậc định lượng.
Ba phần chi phí gồm giá in theo khổ và số lượng, phụ phí giấy dày tính trên từng tờ và gia công với cấn tính theo lượt, cắt tính theo lô. Bảng dưới lấy mốc 1.000 tờ gấp ba A4, in hai mặt, không cán màng.
| Phương án | Tiền in | Phụ phí giấy | Cấn 2 đường | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| Offset ghép bài, C150 | 950.000 VNĐ trọn lô | Không có | 500.000 VNĐ | Tiền in thấp nhất trong bốn phương án |
| Offset ghép bài, C200 | 1.300.000 VNĐ trọn lô | Không có | 500.000 VNĐ | C200 là mức giấy dày nhất bảng ghép bài có |
| Kỹ thuật số, C150 | 2.730.000 VNĐ (2.730 VNĐ × 1.000 tờ) | Không có | 500.000 VNĐ | Dùng khi số lượng dưới sàn chạy offset |
| Kỹ thuật số, C250 | 2.730.000 VNĐ | 600.000 VNĐ (600 VNĐ × 1.000 tờ) | 500.000 VNĐ | C250 không có trong bảng ghép bài |
Với 1.000 tờ gấp ba, hai đường gấp tương đương 2.000 lượt cấn. Mức từ 1.001 lượt có giá 250 VNĐ mỗi lượt, nên tiền cấn là 500.000 VNĐ. Cắt gia công cho lô 1.000–2.000 tờ là 80.000 VNĐ. Hai khoản này tính riêng, chưa nằm trong tiền in. Khi báo giá, xưởng sẽ xác nhận lại phần gia công đã được tính vào giá lô hay chưa.
Điểm cần chú ý là bảng offset ghép bài chỉ nhận C100, C150 và C200. Chọn C250 sẽ không còn áp dụng được mức giá này và phải chuyển sang kỹ thuật số hoặc offset bài riêng. Từ C150 lên C200 chỉ tăng 350.000 VNĐ cho cả lô. Nhưng từ C200 lên C250, tiền in tăng từ 1.300.000 lên 2.730.000 VNĐ, thêm 600.000 VNĐ phụ phí giấy dày. Tổng chi phí vì thế tăng hơn 2 triệu đồng cho cùng 1.000 tờ. Do đó, C150 hoặc C200 thường là mức dễ kiểm soát chi phí hơn.
Ba lỗi chọn giấy làm hỏng cả lô tờ gấp
Chọn đúng giấy và tính đúng chi phí nhưng lô vẫn hỏng thường do một trong ba lỗi dưới đây:
- Lỗi thứ nhất là chọn giấy trước khi chọn kiểu gấp: Một mẫu đẹp dùng C250 có thể khiến bạn chọn ngay loại giấy này, nhưng khi chuyển sang gấp ba, giấy có thể không còn phù hợp. Khi đó, bạn phải đổi giấy và báo giá, hoặc chấp nhận nguy cơ nứt nếp. Cách an toàn là chốt kiểu gấp trước rồi mới chọn giấy.
- Lỗi thứ hai là không báo xưởng tờ này sẽ được gấp: Nếu chỉ gửi file A4 in hai mặt, xưởng có thể xử lý như tờ rơi phẳng và bỏ qua bước cấn. Khi nhận hàng, bạn tự gấp bằng tay thì cả lô có thể bị nứt. Lỗi này gần như không thể sửa sau khi in. Vì vậy, hãy ghi rõ kiểu gấp và số đường cấn ngay khi đặt in.
- Lỗi thứ ba là để nền màu đậm nằm trên đường gấp: Vết nứt trên nền trắng khó nhận thấy, nhưng trên nền màu đậm sẽ hiện thành đường trắng rõ rệt. Bạn nên dịch vùng màu khỏi đường gấp vài milimet hoặc chọn cán màng để bảo vệ bề mặt.
Ghi quy cách giấy thế nào khi gửi yêu cầu cho xưởng?
Bạn có thể gói toàn bộ yêu cầu in vào một dòng quy cách gồm 5 mục để xưởng dễ kiểm tra và báo giá ngay. Năm mục gồm loại giấy và định lượng, khổ trải và khổ thành phẩm, kiểu gấp và số đường cấn, cán màng và số mặt cán, số lượng.
Ví dụ một dòng quy cách đầy đủ là: “A4 trải 210 × 297 mm, gấp cuộn ba, giấy C200, cán màng mờ một mặt, cấn 2 đường, 1.000 tờ.”
Ghi đủ 5 mục giúp xưởng hạn chế phải hỏi lại và báo giá đúng cấu hình. In Siêu Tốc hỗ trợ báo giá trong 1 giờ. Nếu chưa chốt đủ thông tin, bạn có thể gửi file thiết kế để xưởng kiểm tra và tư vấn thêm.
Câu hỏi thường gặp
Tờ gấp in giấy 300gsm được không?
Có thể dùng, nhưng chủ yếu phù hợp với tờ gấp đôi, một đường gấp và phải cấn trước. Giấy 300 gsm khá dày nên khi gấp trực tiếp dễ gãy hoặc nứt sống giấy. Với tờ gấp ba, giấy 300 gsm càng khó gấp phẳng do có nhiều lớp giấy chồng lên nhau. Khổ A4 dùng C250–C300 có phụ phí 600 VNĐ/tờ, áp dụng từ 10 tờ.
Giấy kraft nâu có in tờ gấp được không?
Kraft phù hợp để gấp vì thân giấy dai và chịu nếp khá tốt. Điểm cần lưu ý là nền nâu tự nhiên làm màu in bị ám, nên hợp với thiết kế một hoặc hai màu, thường là đen hoặc màu thương hiệu đậm. Kraft phù hợp với thương hiệu theo phong cách mộc và tờ gấp kèm sản phẩm thủ công. Giá và thời gian sản xuất thường cần báo riêng.
Không cán màng thì có bắt buộc phải cấn không?
Nên cấn trước khi gấp. Cấn giúp tạo rãnh trong phần giấy, còn cán màng bảo vệ bề mặt nên hai công đoạn không thay thế nhau. Khi không cán màng, cấn giúp nếp gấp thẳng và hạn chế nứt. Nếu dùng cả hai, cần làm đúng thứ tự in → cán màng → cấn → gấp.
In tờ gấp số lượng ít nên chọn giấy nào cho tiết kiệm?
Với lô nhỏ chưa đủ số lượng để chạy offset, in kỹ thuật số thường phù hợp hơn. Muốn tiết kiệm, nên chọn giấy trong dải chuẩn thay vì giảm định lượng. Giấy ngoài dải này có thể phát sinh phụ phí trên từng tờ, làm tổng chi phí lô nhỏ tăng đáng kể. Từ 1.000 tờ A4, offset thường có giá thấp hơn kỹ thuật số.
Chọn giấy in tờ gấp theo đúng thứ tự sẽ giúp hạn chế lỗi và kiểm soát chi phí. Kiểu gấp quyết định định lượng phù hợp; định lượng quyết định có cần cấn, cán màng hay không; từ đó mới tính được chi phí cuối cùng. Nếu chọn ngược, bạn có thể phải đổi giấy, sửa báo giá hoặc gặp lỗi nứt nếp. Khi đã có kiểu gấp và số lượng, bạn có thể gửi cấu hình cho In Siêu Tốc để được tư vấn và báo giá.
- Hotline: 0903.79.68.29 – 0907.707.770 – 028.397.22222
- Email: sales.insieutoc@gmail.com
- Văn phòng: 381 Nguyễn Sơn, P. Phú Thạnh, TP.HCM
